Với Hàn Mặc Tử, thơ không phải là nghề, thơ là nghiệp. Theo cả hai nghĩa: là nghiệp dĩ mà cũng là nghiệp chướng. Chia thi sĩ ra làm hai loại là người làm thơ và người bị thơ làm, tựa như kẻ bị ám, bị hành, Chế Lan Viên xếp Hàn Mặc Tử vào hạng thi sĩ bị thơ làm.
Nhận định đặc sắc về Hàn Mặc Tử và Đây thôn Vĩ Dạ. • “Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mạc Tử.”. • “Sẽ không thể giải thích
Hà Lan 5,3 Công nghệ khoa học đời sống Đức: 27,4 Điện tử quang học Ireland: 17,8 Nhật: 19,3 Anh: 10,2 Trung Quốc: 17,1 Điện tử Đài Loan: 11,2 Nhật: 16,5 Hàn Quốc: 15,7 Malaysia: 12,4 Công nghệ sinh học Bỉ: 26,8 Pháp: 14,6 Thụy Sỹ 12,6 Viễn thông Phần mềm máy tính Nhật: 20,3 Canada: 15,9
Phân tích tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên xuất sắc; Top 5 gel dưỡng ẩm không nhờn rít lựa chọn số 1 cho mùa hè; An Bang Garden Homestay – Homestay Hội An đốn tim du khách với nhiều view chất lừ; Phân tích khổ 2 bài mùa xuân nho nhỏ cực hay; Phân tích khổ 2 bài mùa xuân nho
Fast Money. Giải tríGiới saoTrong nước Thứ tư, 19/1/2005, 0724 GMT+7 Những vần thơ Chế Lan Viên làm ra đã khiến Hàn Mặc Tử kinh ngạc. Đọc thơ của Chế, thi sĩ họ Hàn tìm ra được một hướng sáng tác những bài thơ điên loạn. Trước đó, ông đã nghiên cứu rất kỹ trường thơ tượng trưng của Pháp. Từ trái sang Các nhà thơ Quách Tấn, Nguyễn Đình, Chế Lan Viên năm 1941. Quy Nhơn - Bình Định là vùng đất thiêng. 500 năm trước, vùng đất này là chiến trường đẫm máu. Một vương triều sụp đổ, bao nhiêu chiến binh tử trận. Thành Đồ Bàn ngày nào còn lại một dãy gò sỏi mênh mông với những tháp Chàm đổ nát. Từ xưa, nhiều thi sĩ khi qua đây đã cảm xúc bật ra những vần thơ thống thiết. Vào những năm 1930-1945, Quy Nhơn - Bình Định bỗng trở thành vùng đất cực thịnh của văn chương nghệ thuật. Nơi đây tập trung toàn những thi sĩ tầm cỡ. Thuở ấy, có cậu học trò nhút nhát thích làm thơ tên là Phan Ngọc Hoan. Đắm mình trong không gian huyền hoặc của cõi Đồ Bàn, Hoan đặt cho mình cái tên Chế Lan Viên rồi khóc than người đã khuất bằng tập thơ Điêu tàn với những câu thơ thật lạ lùng "Đây, chiến địa nơi đôi bên giao trận/Muôn cô hồn tử sĩ hét gầm vang/Máu Chàm cuộn tháng ngày niềm oán hận/Xương Chàm luôn rào rạt nỗi căm hờn". Năm 1936, từ Sài Gòn trở lại Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử đã gặp Chế Lan Viên. Chế tìm đến Tử như tìm đến một ông thày dạy làm thơ. Thế nhưng những vần thơ của Chế đã khiến Tử kinh ngạc "Chiều hôm nay bỗng nhiên ta lạc bước/Vào nơi đây thế giới vạn cô hồn/Hơi người chết tỏa đầy trong gió lướt/Tiếng máu kêu rung chuyển cỏ xanh non/Trên một nấm mồ tàn ta nhặt được/Khớp xương ma trắng tựa não cân người/Tủy đã cạn nhưng vẫn đầm hơi ướt/Máu tuy khô còn đượm khí tanh hôi". Trước đó, Hàn Mặc Tử đã nghiên cứu rất kỹ về trường phái thơ tượng trưng của Pháp. Chàng mong muốn tạo ra một trường phái thơ cho riêng mình. Giờ đây Chế đã làm lóe lên trong đầu Tử cái mà lâu nay chàng đi tìm nhưng chưa thấy. Trước đó, khi Yến Lan hoàn thành bản thảo tập Giếng loạn, Tử đã mơ hồ nghĩ đến một thứ thơ "không giống ai". Bây giờ đọc thơ của Chế, Hàn Mặc Tử đã tìm ra được một hướng sáng tác những bài thơ điên loạn. Vì vậy, ngay trong ngày Chế Lan Viên và Yến Lan đem bản in đặc biệt của tập Điêu tàn đến cho chàng xem, chàng hồ hởi công bố ngay việc thành lập Trường thơ loạn. Từ đó, dưới ngọn cờ của chủ soái Hàn Mặc Tử, các thành viên trong Trường thơ loạn say sưa sáng tác. Có những đêm cả bọn đem chăn màn ra bờ biển ở lại suốt đêm để thả hồn theo những vần thơ kỳ dị. Thơ của các thi sĩ Trường thơ loạn tràn ngập trăng, hồn, máu, bóng ma, sọ người, xương cốt, tinh tủy... Tất cả say sưa bước chân vào thế giới rùng rợn đó. Nếu Hàn Mặc Tử thích thú với hồn để viết "Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút/Mỗi hồn thơ đều dính não cân ta/Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt/Như mê man chết điếng cả làn da" thì Chế Lan Viên lại khoái... sọ người hơn "Hỡi chiếc sọ, ta vô cùng rồ dại/Muốn riết mi trong sức mạnh tay ta/ Để những giọt máu đào còn đọng lại/Theo hồn ta tuôn chảy những lời thơ/Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ/Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô". Việc nhóm thơ Bình Định cho ra đời Trường thơ loạn khiến văn thi hữu khắp nơi bàn tán xôn xao. Nhiều người hoan nghênh nhưng cũng không ít người chê bai. Hoài Thanh kể "Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mặc Tử nhiều lắm. Có người bảo Hàn Mặc Tử thơ với thẩn gì, toàn nói nhảm! Có người còn nghiêm khắc hơn nữa Thơ gì mà rắc rối thế. Mình tưởng có ý nghĩa khuất khúc gì, cứ đọc đi đọc lại hoài, thì ra nó lừa mình!". Đặc biệt Xuân Diệu là người ghét cay ghét đắng những vần thơ điên của Tử. Hoài Thanh kể tiếp "Xuân Diệu có lẽ cũng nghĩ đến Hàn Mặc Tử khi viết đoạn này Hãy so sánh thái độ can đảm kia thái độ những nhà chân thi sĩ với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu Tôi điên đây! Tôi điên đây! Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống”. Đúng là những vần thơ điên của các thi sĩ đã gây shock cho nhiều người. Nhưng thật ra đó chỉ là một cách giải quyết sự bế tắc trong tư tưởng mà thôi. Hàn Mặc Tử đã dẫn dắt các thi sĩ sáng tác khá nhiều vần thơ kỳ dị cho đến lúc chàng rời bỏ cuộc đời vào năm 1941. Sang năm 1942, đến lượt Bích Khê cũng vĩnh viễn ra đi. Trường thơ loạn từ đó tan rã. Theo Thanh Niên
Mục lục Câu chuyện cuộc đời Hàn Mặc Tử Chất thơ trong thơ của Hàn Mặc Tử Hàn Mặc Tử 22/9/1912 – 11/11/1940 là nhà thơ nổi bậc của Việt Nam, là người khởi xướng nên trường thơ loạn, đi tiên phong trong dòng thơ lãng mạn hiện đại. Nói về Hàn Mặc Tử, nhà thơ Chế Lan Viên ca ngợi “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”. Hàn Mặc Tử - Ngôi sao sáng trên bầu trời thơ ca Việt Nam Đôi nét về Hàn Mặc Tử Tên thật Nguyễn Trọng Trí Bút danh Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần Quê quán Làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình Cha Nguyễn Văn Toản Mẹ Nguyễn Thị Duy Giai đoạn sáng tác 1928 – 1940 Trào lưu Lãng mạn Tác phẩm Vội vàng chi lắm, Mùa Xuân chín, Đây thôn Vĩ Dạ, Bẽn Lẽn, Ngủ với Trăng, Thức khuya,… Ý nghĩa bút danh Hàn Mặc Tử Bút danh Hàn Mạc Tử của nhà thơ mang nghĩa là một chàng trai đứng sau bức rèm lạnh lẽo, trống trải. Về sau những người bạn đã gợi ý anh nên vẽ thêm một nét trăng khuyết vào để tăng thêm phần lạnh lẽo cho sự cô đơn của con người trước thiên nhiên. Mặt trăng đó được Hàn Mặc Tử đặt vào chữ Mạc mà thành ra chữ Mặc, Hàn Mặc Tử có nghĩa là "chàng trai bút nghiên". Và có vẽ như bút danh đã vận vào cuộc đời của nhà thơ tài hoa bạc mệnh, những năm tháng cuối đời Hàn Mặc Tử phải sống trong cảnh lẻ loi, đau đớn vì bệnh tật. Câu chuyện cuộc đời Hàn Mặc Tử Hàn Mặc Tử sinh ra với thân hình gầy guộc, ốm yếu, từ nhỏ tính tình hiền lành, ham học, vốn có lối sống giản dị và thích giao du với những người bạn có chung niềm đam mê thơ ca với mình. Hàn Mặc Tử bắt đầu sự nghiệp sáng tác thơ khi còn rất trẻ, lúc ấy nhà thơ mới chỉ 16 tuổi, và Phan Bội Châu chính là người có nhiều ảnh hưởng đến thơ ca của anh. Năm 21 tuổi, Hàn Mặc Tử rời quê vào Sài Gòn lập nghiệp, trở thành phóng viên phụ trách mảng thơ cho tờ báo Công Luận, đây cũng là thời điểm ông và Mộng Cầm quen biết nhau. Mộng Cầm là một cộng tác của tờ báo, cô có niềm đam mê thơ ca và thường xuyên làm thơ gửi lên toà soạn. Dần dà, Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm thư từ qua lại, hai người tâm đầu ý hợp, Hàn Mặc Tử quyết định ra Phan Thiết gặp nàng thơ của mình và bắt đầu một chuyện tình lãng mạn. Khi Hàn Mặc Tử 23 tuổi năm 1935 trên cơ thể anh bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu của bệnh phong, nhưng rất nhẹ, Hàn Mặc Tử cho rằng đó chỉ là bệnh ngứa đơn thuần nên không mấy quan tâm. Đến năm 1936, Hàn Mặc Tử quay lại Sài Gòn lần 2, lúc này ông được nhận làm chủ bút cho tờ Phụ nữ tân văn, Hàn Mặc Tử mới nghĩ đến việc phải trị dứt hẳn căn bệnh “phong ngứa” mà vẫn chưa phát hiện bản thân mắc bệnh nan y, gọi là “phong cùi”. Thời điểm này cũng là lúc nhà thơ cho ra đời tập thơ "Gái quê" nổi tiếng. Thời ấy phong cùi được xem là một căn bệnh truyền nhiễm, hầu như ai cũng có thành kiến với người mắc căn bệnh này, bệnh nhân bị hắt hủi, xa lánh và thậm chí là ngược đãi. Tin nhà thơ Hàn Mặc Tử mắc bệnh phong cùi nhanh chóng lan rộng, gia đình lựa chọn đưa anh đi cách ly thay vì đi chữa trị ở Bệnh viện phong Quy Hòa. Có một câu chuyện được kể lại liên quan đến căn bệnh của Hàn Mặc Tử Một hôm Hàn Mặc Tử cùng Mộng Cầm đi dạo ở lầu Ông Hoàng Phan Thiết thì có đi ngang một nghĩa địa, ở đó có một ngôi mộ mới an táng thì mưa xuống. Hàn Mặc Tử nhìn thấy từng đốm đỏ bay lên từ ngôi mộ, sau anh về nhà nghỉ và rồi sớm phát hiện ra mình mắc bệnh phong cùi. Năm 1938 -1939, bệnh của Hàn Mặc Tử bộc phát dữ dội, cơ thể vô cùng đau đớn nhưng không ai nghe nhà thơ khóc than hay rên rỉ một lời, ông dồn nén tất cả nỗi đau và chỉ gào thét trong thơ. Nguyễn Bá Tín, em trai ruột của Hàn Mặc Tử khi nhớ về những năm tháng cuối đời của anh trai từng nói “Da anh đã khô cứng, nhưng hơi nhăn ở bàn tay, vì phải vận dụng sức khỏe để kéo các ngón khi cầm muỗng ăn cơm. Bởi vậy, trông như mang chiếc "găng" tay bằng da thô. Toàn thân khô cứng.” Hàn Mặc Tử mắc bệnh phong cùi, một căn bệnh nan y bị xa lánh, ghê sợ lúc bấy giờ Sau cùng, Hàn Mặc Tử bỏ lại tất cả, quyết vào Bệnh viện phong Quy Hoà để chữa trị, sau khi thăm khám bác sĩ nhận định nội tạng nhà thơ hư hỏng bởi uống quá nhiều thuốc tạp nham của lang băm. Vào 5 giờ 45 phút ngày 11/11/1940 Hàn Mặc Tử từ trần tại bệnh viện vì chứng kiết lỵ, lúc ấy nhà thơ chỉ mới 28 tuổi. Xem thêm Dù là thiên tài âm nhạc vì sao Wolfgang Amadeus Mozart lại có cuộc sống thiếu thốn, túng quẫn? Chất thơ trong thơ của Hàn Mặc Tử Từ những ngày đầu tiên chập chững bước vào con đường sáng tác, thơ của Hàn Mặc Tử đã mang màu sắc táo bạo, phá cách, gây tiếng vang lớn trong giới yêu thích thi ca. Với lối thơ nửa kín, nửa mở, trần tục, Hàn Mặc Tử khiến đọc giả phải suy nghĩ và nghiền ngẫm nhiều. Ông dùng con chữ một cách trừu tượng làm nên chiếc đòn bẩy để mà gợi lên trong lòng người đọc những cảm xúc rất riêng tư. “Bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối, Gió thu lọt cửa cọ mài chăn”… Thức khuya “Trăng nằm sõng soài trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi Hoa lá ngây tình không muốn động Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi” Bẽn lẽn Những năm cuối đời, Hàn Mặc Tử sống lạnh lẽo, cô đơn cùng sự đau đớn cùng cực bởi bệnh “phong cùi”. Đôi bàn tay nhà thơ co quắp, khô cằn nhưng vẫn không ngừng miệt mài sáng tác, không ngừng cống hiến cho nền văn học hiện đại Việt Nam. Có lẽ chính bởi những đau khổ trong cuộc đời, niềm khát khao cuộc sống, mà những tác phẩm của ông càng thêm sâu sắc, lạ lẫm, độc đáo nhưng cũng đớn đau và có phần điên loạn. “Trời hỡi, bao giờ tôi chết đi? Bao giờ tôi hết được yêu vì, Bao giờ mặt nhật tan thành máu Và khối lòng tôi cứng tựa si?” Những giọt lệ Cái chết của nhà thơ Hàn Mặc Tử chính là sự mất mát lớn của nền văn học Việt Nam lúc bấy giờ, thế nhưng bằng ấy khoảng thời gian ngắn ngủi sống trên đời nhà thơ tài hoa cũng đã để lại rất nhiều những tác phẩm thơ ca bất hủ!
Bên cạnh những vần thơ điên, thơ say, thơ siêu thực, thơ Hàn Mặc Tử là một giọng thơ trữ tình, đằm thắm, thể hiện tình yêu cuộc sống tha thiết, khao khát tình người đến cháy bỏng. Hàn Mặc Tử. Sinh thời, nhà thơ Chế Lan Viên từng nhận định ''Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình." Thật vậy, trong làng Thơ mới, Hàn Mặc Tử là thi sỹ có diện mạo thơ vô cùng phong phú, sáng tạo và đầy bí ẩn. Bên cạnh những vần thơ điên, thơ say, thơ siêu thực là một giọng thơ trữ tình, đằm thắm, thể hiện tình yêu cuộc sống tha thiết, khao khát tình người đến cháy bỏng. "Ánh sáng" khác thường Hàn Mặc Tử Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22/9/1912 tại ngôi làng Lệ Mỹ bên dòng Nhật Lệ, nay thuộc thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Hàn Mặc Tử bộc lộ một tài năng thơ ca từ rất sớm. Năm 16 tuổi, ông đã bắt đầu làm thơ và nổi tiếng trên thi đàn với bài thơ đầu tiên ''Vội vàng chi lắm'' họa vận bài ''Gởi nhạn''của nhà thơ Mộng Châu. Thơ Hàn Mặc Tử thuở ban đầu mang đậm dấu cổ thi, chất trữ tình trong thơ ông là chất trữ tình cổ điển, với lối so sánh ước lệ và thể thơ Đường luật. Tuy nhiên, dẫu bắt đầu bằng những khuôn mẫu nhưng thơ của Tử đã mầm mống xuất hiện những phá cách đầy táo bạo ''Bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối, Gió thu lọt cửa cọ mài chăn''… Thức khuya Từ năm 1935, ông đổi bút hiệu thành Lệ Thanh, rồi Hàn Mặc Tử. "Hàn Mặc Tử" là "chàng bức rèm lạnh" hay "chàng đơn lạnh." Cái tên ấy dường như đã ứng với dự cảm về những năm cuối trên đỉnh thơ cô đơn, lẻ lạnh của riêng ông. Năm 1936, Hàn Mặc Tử cho xuất bản tập "Gái quê" lừng danh và cũng chính lúc này ông phát hiện mình bị bệnh phong. Gần cả cuộc đời phải chống chọi với bạo bệnh, cũng là gần trọn cuộc đời, thi sỹ luôn đấu tranh cho khát vọng được sống, được yêu đến quằn quại, đau đớn. Tuy nhiên cũng nhờ những đau khổ trong cuộc đời, cộng với bản năng sáng tạo đã chắp cánh cho thi ca Hàn Mặc Tử, đưa ông lên đỉnh cao của văn chương, nghệ thuật hiện đại. Từ những năm ba mươi của thế kỷ, trong tư duy nghệ thuật của mình, Hàn Mặc Tử đã có ý thức đi tìm cái lạ và nung nấu thi hứng sáng tạo ở một cường độ cao ''Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ - sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của tình yêu. Tôi đã vui buồn hờn giận đến gần đứt sự sống.'' Thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử vô cùng phong phú và đa dạng như ông đã từng nói "Vườn thơ của tôi rộng rinh không bờ bến. Càng đi xa càng ớn lạnh.'' Trữ tình gợi cảm trong đau thương Trong cuốn "Hàn Mặc Tử một hiện tượng thơ độc đáo trong tư duy thơ Việt Nam," nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy cho rằng ''Nếu Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính là dòng lãng mạn thuần khiết, nếu Xuân Diệu và nhất là Huy Cận, là dòng lãng mạn được cườm vào những yếu tố tượng trưng… thì Hàn Mặc Tử là hài hòa của lãng mạn, tưởng tượng, thậm chí siêu thực nữa.'' Có lẽ chính từ cuộc sống mỏi mòn trong bệnh tật, cô đơn, trong bóng đêm hoang hoải đầy ác mộng, ẩn ức, ám ảnh giữa thực và mộng của ông đã thăng hoa từ vô thức mà bừng lên những hình ảnh siêu thực trên cái nền lãng mạn ''Không gian dày đặc toàn trăng cả/ Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng,'' ''Nước hóa thành trăng trăng ra nước/ Lụa là ướt đẫm cả trăng thơm''… Đọc thơ của Hàn Mặc Tử, có khi người ta cảm thấy bứt rứt kinh khủng bởi lối nói đậm vẻ phương Đông vừa lộ liễu vừa kín đáo. Thơ ông không áp đặt người đọc phải cảm nhận những gì ông cảm nhận, những con chữ chỉ đóng vai trò đòn bẩy, là phương tiện mở ra những liên tưởng độc đáo, làm bật lên cảm xúc riêng biệt trong mỗi người, từ đó mà ta đón nhận những mỹ cảm một cách tròn đầy hơn, đã đời hơn mà reo lên thích thú ''Trăng nằm sõng soài trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi Hoa lá ngây tình không muốn động Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi'' Bẽn lẽn Đôi bàn tay của một con người mắc bệnh phong đang co quắp vì đau đớn, nhưng càng đau đớn, đôi bàn tay ấy càng khát khao, thèm muốn níu giữ lấy cuộc đời níu giữ lấy tình đời. Dường như nhà thơ cố dồn hết sức lực của mình vào đôi bàn tay để "riết," để "níu," để "ràng rịt" với cuộc đời. Và cũng có những lúc đôi bàn tay ấy xòe ra thật rộng, nhà thơ như cởi hết lòng để yêu, để viết và để hòa mình với thiên nhiên với cuộc đời thơ mộng ''Cởi thơ, cởi mộng, cởi niềm yêu thương''... Ngủ với trăng Nhà thơ đã mở rộng "túi thơ" của mình để đón nhận và để dâng hiến. Nói chuyện tâm hồn mà vẫn giản dị như đời thường. Ngay cả trong những câu thơ hay nhất, mang chiều kích rộng lớn, bao la của vũ trụ ông vẫn dùng cách nói như thế ''Áo ta rách rưới trời không vá, Mà bốn mùa trăng mặc vải trăng.'' Lang thang Giáo sư Lê Đình Kỵ đã nhận xét "Không ai ngoài Hàn Mặc Tử có thể viết như thế... Câu thơ mang chiều kích của vũ trụ mà vẫn tự nhiên như không, siêu thoát mà vẫn trần tục với chuyện Rách rưới, Vá víu, Vải vóc." Một trong những tiêu chuẩn để đánh giá tài năng nghệ sỹ là cái lạ, cái độc đáo. Thơ ca Hàn Mặc Tử lạ trong cách suy nghĩ, lập ý, so sánh, trong cách dùng từ ngữ, hình ảnh. Và cái lạ nhất là một con người phải trải qua những nỗi đau thể xác và tinh thần ghê gớm như vậy nhưng giọng thơ nói chung không bi quan mà luôn mơ ước, hướng tới thế giới vĩnh hằng ''tứ thời xuân non nước.'' Bên những vần thơ điên loạn với ngập tràn ý tưởng của hồn, trăng, và máu, người ta còn biết đến những bài thơ trong sáng như ca dao, ngọt lành như trái chín với cái nhìn trẻ trung, lãng mạn mà bí ẩn của thi nhân. Đó là nhân vật trữ tình của một thời ''Hai mươi mốt tuổi, tuổi như hoa.'' Với bao hy vọng của tuổi trẻ Ra đời ta thấy đời vui sao/ Đầy cả say sưa với ngọt ngào…/ Lúc ấy lòng ta như rạo rực/ Bâng khuâng thèm uống rượu Quỳnh Dao/ Chạy theo hạnh phúc. Hàn Mặc Tử đã gắn bó tâm hồn mình với thiên nhiên đất nước, với những không gian đã từng chứng kiến bao kỷ niệm vui buồn, được mất trong cuộc đời và tình duyên của thi nhân. Lạ lùng thay với Hàn Mặc Tử, ''những địa danh cụ thể cũng trở thành huyền ảo,'' cũng nên thơ với Đà Lạt trăng mờ, Đây thôn Vĩ Dạ, Phan Thiết! Phan Thiết. Mộ Hàn Mạc Tử tại Ghềnh Ráng, Quy Nhơn, Bình Định. Nguồn Tình quê hương trong cách cảm, cách nghĩ của thi sỹ không chỉ là tình người, tình đời như thơ Nguyễn Bính hay là bức tranh quê như trong thơ Bàng Bá Lân, Anh Thơ mà là tiếng vọng của tâm linh, với những hình ảnh gợi cảm, giàu nhạc điệu Mây chiều còn phiêu bạt/ Lang thang trên đồi quê/ Gió chiều quên ngừng lại/ Dòng nước luôn trôi đi/ Ngàn lau không tiếng nói/ Lòng anh dường đê mê…/ Tiếng buồn trong sương đục/ Tiếng hờn trong luỹ tre/ Dưới trời thu man mác/ Bàng bạc khắp sơn khê Tình quê. ''Mùa xuân chín'' và ''Đây thôn Vĩ Dạ'' là những bài thơ nổi tiếng của Hàn Mặc Tử. Với ''Mùa xuân chín,'' thiên nhiên trong thơ như không có đường viền. Trong cái không gian khoáng đạt, phóng túng ấy ẩn náu một cái tôi trữ tình tài hoa, đầy dự cảm của thi nhân Trong làn nắng ửng khói mơ tan/ Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng/ Sột soạt gió trêu tà áo biếc/ Trên giàn thiên lý bóng xuân sang/ Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời/ Bao cô thôn nữ hát trên đồi/ - Ngày mai trong đám xuân xanh ấy/ Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi. Ngày 11/11/1940, Hàn Mặc Tử đã trút hơi thở cuối tại nhà thương Quy Hòa. Ngôi sao ấy xẹt qua bầu trời thi ca Việt nhưng đã kịp để lại vầng sáng lạ lùng và dữ dội. Nửa đời người chưa qua hết nhưng Hàn Mặc Tử đã làm tròn sứ mệnh của mình, để lại cho nền văn học Việt Nam một đời thơ giá trị. Thật đúng như nhà thơ Chế Lan Viên đã nhận định ''Mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, còn lại chút gì trên đời này đáng kể, đó chính là Hàn Mặc Tử''…./. Theo TTXVN
chế lan viên nói về hàn mặc tử